Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Việc các nước châu Âu là thành viên NATO phải có trách nhiệm hơn trong chi tiêu quốc phòng đã trở thành yêu cầu chiến lược.

Trong gần 7 thập kỷ, NATO đã xây dựng và củng cố mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, tạo ra “nhận dạng thương hiệu” về sức mạnh quân sự chung của phương Tây. NATO là tổ chức cần thiết cho quốc phòng và an ninh của 66% người dân châu Âu và 62% người dân Mỹ.

Sau khi Liên Xô tan rã, các mục tiêu cũng như ưu tiên của NATO đã thay đổi và không còn chỉ bó hẹp trong một khu vực cụ thể. Tuy nhiên, di sản từ thời Chiến tranh Lạnh vẫn đang tồn tại trong NATO, đó là sự mất cân bằng trong việc chia sẻ gánh nặng giữa các nước thành viên.

Mặc dù xét về tổng thể, đóng góp của các nước cho NATO không ngừng tăng theo thời gian, nhưng Mỹ vẫn là nước có đóng góp nhiều nhất cho liên minh. Ngay cả khi các quốc gia châu Âu đã phục hồi kinh tế sau chiến tranh và NATO nhanh chóng mở rộng từ 12 thành viên sáng lập vào năm 1949 lên 29 thành viên vào năm 2017, mức đóng góp của các thành viên vẫn rất chênh lệch.

Nội dung khi không có video

Sự bất mãn của Mỹ...

NATO từng ghi nhận mức đóng góp mất cân bằng nhất trong lịch sử vào năm 1952, khi Mỹ tài trợ cho 77% tổng chi tiêu của liên minh. Mức đóng góp được cho là cân bằng nhất của Mỹ trong NATO được ghi nhận vào năm 1999, khi ấy Mỹ góp 55% chi tiêu chung của liên minh. Nguyên nhân của việc Mỹ chỉ phải góp 55% là do khi đó, NATO nhận được cam kết lâu dài của các thành viên đối với cuộc xung đột ở Balkan.

Nỗ lực của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện nay nhằm gây áp lực lên các thành viên châu Âu trong NATO, buộc các nước này phải đóng góp nhiều hơn đã gây sự chú ý của nhiều người. Tuy nhiên, về bản chất, câu chuyện này không có gì mới nếu không muốn nói đã quá cũ.

Vấn đề này lần đầu tiên được cựu Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đề cập vào năm 1953. Ông Eisenhower yêu cầu châu Âu cần phải tăng đóng góp cho chi tiêu chung của NATO với lý do “các giếng dầu của Mỹ đã cạn khô”. Kết quả là các đối tác châu Âu trong NATO đã tăng đóng góp nhưng tất cả chỉ như “muối bỏ bể” và Mỹ tiếp tục phải gánh phần lớn.

Năm 1980, chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan lại một lần nữa đề cập đến câu chuyện này. Phần chia sẻ của Mỹ đối với ngân sách chung của NATO lúc đó là 63%. Năm 1977, các nước thành viên NATO đã đồng ý tăng chi tiêu quốc phòng lên mức 3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Mặc dù vậy, chỉ có một số nước châu Âu đạt được mục tiêu này.

Năm 1989, với thành công đáng kể trong việc gây áp lực buộc các nước châu Âu đóng góp nhiều hơn cho NATO, tỷ lệ đóng góp của Mỹ chiếm 62% tổng chi tiêu của NATO. Sau đó, với tình hình mối quan hệ Đông-Tây được cải thiện vào cuối thời kỳ chiến tranh Lạnh, cam kết đóng góp của các nước thành viên cho NATO đã giảm xuống còn 2% GDP.

“Các quốc gia thành viên NATO không phải trả cho những gì họ cần… và điều đó là không công bằng đối với những đối tượng nộp thuế ở Mỹ”, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói trong lần đầu tiên tham dự một hội nghị thượng đỉnh của NATO tại Brussels, Bỉ.

Có một điều ít ai biết đó, là không phải Tổng thống Trump là người khơi mào cho “làn sóng” tranh luận mới nhất về mức đóng góp của các thành viên NATO. Thực tế là “làn sóng” này bắt đầu từ năm 2011 khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates công kích các thành viên NATO vì không đóng góp “có trách nhiệm”.

Ông Gates cho rằng Mỹ sẽ không “làm từ thiện” với những gì đang diễn ra trong liên minh. Đây là lần đầu tiên sự tồn tại của NATO được đặt dấu hỏi. Trước khi “mối đe dọa” này hiện hữu, các thành viên châu Âu trong NATO đã đều đặn cắt giảm ngân sách quốc phòng của họ sau khi khủng hoảng kinh tế ở châu Âu nổ ra. Một lần nữa, Mỹ lại phải nai lưng gánh vác 71,5% tổng chi phí hoạt động của liên minh.

Mục tiêu 2%

Chủ đề chia sẻ công bằng gánh nặng trong liên minh là chủ đề chính trong chương trình nghị sự của Hội nghị cấp cao NATO năm 2014. Tại hội nghị này, các quốc gia thành viên đã cam kết đảo ngược xu hướng giảm ngân sách quốc phòng và hứa sẽ theo đuổi mức chi tiêu 2% GDP vào năm 2024. Kết quả trực tiếp là chi tiêu quốc phòng của các quốc gia châu Âu đã tăng nào năm 2015 – lần đầu tiên trong 20 năm.

Năm 2017, chỉ có 6 quốc gia thành viên NATO đạt tiêu chí chi tiêu quốc phòng chiếm 2% GDP (bao gồm Mỹ, Hy Lạp, Anh, Estonia, Ba Lan và Romania). Không có nhiều thay đổi trong mức đóng góp của Mỹ, nước này tiếp tục gánh 72% ngân sách quốc phòng của NATO. Hiện tại, Mỹ đóng góp khoảng 693 tỷ USD trên tổng số 946 tỷ USD chi tiêu quốc phòng của NATO.

Tại châu Âu, các quốc gia có đóng góp lớn nhất lần lượt là: Vương quốc Anh - 55 tỷ USD; Pháp - 44 tỷ USD và Đức là 43 tỷ USD. Như vậy, tổng số đóng góp của ba thành viên quan trọng này cũng chỉ chiếm 15% tổng số chi tiêu quốc phòng của NATO.

Theo đánh giá của giới quan sát, mức chi tiêu quốc phòng 2% là một mục tiêu hợp lý nhưng vấn đề là nó phải được coi là cam kết chính trị mạnh mẽ của các đồng minh. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các thành viên mới của NATO - những nước vốn có quy mô nền kinh tế nhỏ hơn và năng lực quân sự còn hạn chế. Nó cũng rất quan trọng để cân nhắc về cách thức chi tiêu ngân sách cho việc đầu tư mới hoặc duy trì các hoạt động vốn đã được triển khai.

Việc chia sẻ công bằng hơn không thể tách rời với việc tiếp tục duy trì thế “phòng thủ khôn ngoan”. Vấn đề này vốn đã nằm trong “danh sách những việc cần làm” kể từ Hội nghị Thượng đỉnh NATO ở Lisbon, Bồ Đào Nha hồi năm 2010. Với những thách thức đã được báo trước, việc theo đuổi các khái niệm “phòng thủ khôn ngoan” sẽ là yếu tố quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa năng lực thực sự với yêu cầu đặt ra.

Những sự kiện gần đây một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của các cam kết chính trị, sự tin tưởng và thống nhất giữa các đồng minh NATO. Đã có một số tin tức tốt lành về vấn đề này khi mới đây 23 nước châu Âu đã ký kết Thỏa thuận hợp tác cấu trúc thường trực về quốc phòng (PESCO).

Mục tiêu của PESCO là thiết lập một khuôn khổ luật pháp ở châu Âu có tính ràng buộc và liên kết đối với các khoản đầu tư cho an ninh quốc phòng, bao gồm cam kết chung về tăng chi ngân sách theo thời gian, phát triển khả năng phòng thủ chung, đầu tư vào các dự án chia sẻ và tăng cường khả năng sẵn sàng cho mọi tình huống.

Châu Âu không thể mãi dựa dẫm vào Mỹ

Môi trường địa chính trị đã có nhiều thay đổi, tình hình kinh tế cũng rất khác so với 7 thập kỷ trước, khi Mỹ đưa ra cam kết quân sự đối với quốc phòng và an ninh của châu Âu. Ngày nay, Liên minh châu Âu là nền kinh tế giàu có nhất, có khối lượng thương mại lớn nhất trên thế giới. Đi kèm với đó là khả năng quân sự được cải thiện đáng kể.

Mỹ đương nhiên không muốn tiếp tục đảm đương trách nhiệm như từng gách vác cách đây gần 70 năm, đặc biệt khi các đồng minh của Washington giờ đã “đủ lông, đủ cánh” hơn. Vì thế, việc Mỹ yêu cầu những thành viên khác trong NATO phải chia sẻ công bằng hơn cũng là điều dễ hiểu.

Thêm vào đó, châu Âu hiện nay cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức bao gồm làn sóng di dân bất thường từ Bắc Phi và Trung Đông, mối đe dọa khủng bố và chủ nghĩa bạo lực cực đoan không ngừng gia tăng…

Đó là còn chưa kể đến thách thức “thực sự đáng kể” đến từ phía Nga. Việc NATO không ngừng mở rộng về phía Đông lâu nay vẫn được cho là nguyên nhân sâu xa khiến mối quan hệ với Moscow luôn trong tình trạng "cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt".

Những động thái được mô tả chẳng khác nào thế "bao vây quân sự" trên bộ và trên biển của NATO khiến Nga không thể ngồi yên. Moscow đã và đang nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự để đối phó với mối đe dọa từ NATO như lập thêm các sư đoàn tại Quân khu miền Tây và trang bị thêm hàng nghìn thiết bị quân sự hiện đại tại khu vực này, đồng thời tuyên bố sẽ đưa các loại vũ khí cực mạnh đến tăng cường thế phòng thủ cho Crimea, liên tục tổ chức các cuộc tập trận quy mô lớn...

Tổng thống Mỹ Donald Trump (phải) và Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg. Ảnh: Getty.

Trong khi đó, bản thân Mỹ cũng đang phải nỗ lực để chứng minh tầm ảnh hưởng của mình trước sự vươn lên mạnh mẽ của Nga trong việc giải quyết các vấn đề khu vực, cụ thể như trong cuộc chiến ở Syria. Với tình hình như vậy, việc các nước châu Âu là thành viên NATO phải có trách nhiệm hơn trong chi tiêu quốc phòng, hạn chế dần sự ỷ lại vào Mỹ không còn là một lựa chọn mà đã trở thành một yêu cầu chiến lược.

Sáng kiến về một EU nhất thể hóa quân đội do Cao ủy Liên minh châu Âu phụ trách An ninh và Đối ngoại Federica Mogherini khởi xướng còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận hợp tác cấu trúc thường trực về quốc phòng (PESCO) như đã nói ở trên là bước đi quan trọng mà các thành viên châu Âu trong NATO thực hiện khi đã nhận thức được tính cấp bách của vấn đề.

Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo ra một liên minh châu Âu “có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn” trong các vấn đề an ninh. Đây là điều tất yếu dù để đạt được mục tiêu này không phải dễ. Châu Âu hiểu rằng, thời thế đã thay đổi, họ sẽ phải tự nghĩ cách cứu mình trước khi quá muộn./.