Cần “6 nhà” cùng mở “lối thoát” cho nông sản Việt

Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Cần “6 nhà” cùng mở “lối thoát” cho nông sản Việt

Trong cuộc đối thoại với nông dân mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, tiêu thụ nông sản cần sự phối hợp giữa 6 nhà: nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng và nhà phân phối.
N

hững điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu, thủy văn đã giúp cho sản xuất nông sản Việt Nam phát triển mạnh trong những năm gần đây. Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về một số hàng nông sản như gạo, cà phê, hồ tiêu... Hiện, nông sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2017, ngành nông nghiệp đạt gần 43 triệu tấn lúa, 5 triệu tấn ngô, trên 1,5 triệu tấn cà phê, gần 1,1 triệu tấn cao su, trên 7,2 triệu tấn thủy sản… Kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thủy sản trong năm này đạt kỷ lục 36,37 tỷ USD; xuất siêu trên 8,55 tỷ USD và năm 2018 đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD.

Tuy nhiên, sự không ổn định trong sản xuất và tiêu thụ nông sản đã khiến câu chuyện được mùa mất giá lặp đi lặp lại. Khủng hoảng thừa cục bộ một số loại nông sản liên tiếp diễn ra trong những năm gần đây.

Điệp khúc “giải cứu”

Sau hoa Đào, hoa Ly giá rẻ bị người dân vứt bỏ không thương tiếc dịp Tết Nguyên đán, cuối tháng 3/2018, người dân tại Mê Linh (Hà Nội), Tứ Kỳ (Hải Dương) lại lâm vào tình cảnh củ cải, su hào ế thừa, giá rẻ phải nhổ bỏ.

Tại cánh đồng xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, Hà Nội người dân phải thuê dọn ruộng, mang củ cải đi vứt bỏ, với mức giá 1-1,5 triệu đồng/sào. Việc củ cải ế thừa, giá rẻ do nhiều đầu mối không thu mua củ cải tươi chuyển vào miền Nam, miền Trung như mọi năm, giá bán giảm nhanh chóng, từ 4.500-5.000 đồng/kg chỉ còn 1.000 đồng/kg.

Trước tình hình đó, các tổ chức xã hội, tổ chức tình nguyện, một số siêu thị đã phối hợp với chính quyền thực hiện hỗ trợ người dân xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, Hà Nội tiêu thụ củ cải.

Những cuộc “giải cứu” nông sản diễn ra liên tục, cá biệt, vào giữa năm 2017, khi giá thịt lợn giảm mạnh trong 4 tháng liên tiếp, với mức giá chỉ từ 24.000-30.000 đồng/kg. Người nuôi lợn tùy theo quy mô lỗ từ hàng chục triệu đồng đến hàng tỷ đồng. Thị trường đang rơi vào tình trạng cung lớn hơn cầu, đây được xem là nguyên nhân chính khiến giá thịt lợn giảm.

Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, trong 20 năm qua, riêng về sản lượng thịt tăng khoảng 3 lần, từ 1,8 triệu tấn lên 5,4 triệu tấn. Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành, địa phương vào cuộc xử lý việc “khủng hoảng” thừa thịt lợn. Một cuộc “giải cứu” thịt lợn được cộng đồng xã hội phát động để hỗ trợ người chăn nuôi lợn.

Trước cuộc “giải cứu” thịt lợn, cả xã hội đã cùng chung tay giúp người dân Quảng Nam, Quảng Ngãi tiêu thụ hơn 4000 tấn dưa hấu. Trồng dưa hấu nhưng đến vụ thu hoạch, người dân lại rớt nước mắt khi dưa hấu không bán được, bất lực nhìn dưa trở thành “cỏ” cho trâu, bò ăn. Giá dưa dấu rớt thảm hại khi chỉ còn 1.500 đồng/kg.

Với tình trạng “được mùa-mất giá”, cộng đồng xã hội đã nhiều lần chung tay tổ chức thu mua nông sản giúp bà con nông dân. Song xã hội không thể cứ mãi giải cứu nông sản. Câu hỏi đặt ra là cần làm gì để nền nông nghiệp phát triển một cách bền vững?

4 hạn chế lớn nhất của ngành nông nghiệp

Sản xuất nhỏ lẻ, theo phong trào

Vấn đề đầu tiên của ngành nông nghiệp trong câu chuyện được mùa-mất giá là một nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và theo phong trào. Mặc dù việc phát triển hợp tác xã kiểu mới nhằm xóa bỏ cách tổ chức sản xuất lạc hậu đã được Chính phủ, chính quyền nhiều địa phương quan tâm triển khai trong những năm qua. Thế nhưng, đa số hợp tác xã nông nghiệp chưa phát huy hiệu quả và chưa thu hút được nhiều nông dân tham gia. Thực tế, tình trạng nông dân sản xuất kiểu mạnh ai nấy làm và chạy theo phong trào vẫn phổ biến.

Ngay trong đầu tháng 4/2018, nông dân ở các tỉnh Trà Vinh, Long An, Sóc Trăng… nhiều nông dân trồng mía cũng lao đao vì giá thấp và khó bán. Trước những khốn khó của ngành mía đường, hiện nay, nhiều hộ nông dân ở ĐBSCL ồ ạt bỏ ruộng mía để chuyển sang trồng cây khác hoặc đào ao nuôi thủy sản.

Hay mít Thái siêu sớm đầu năm nay giá tăng cao kỷ lục, từ 45.000-50.000 đồng/kg loại I. Nhiều nhà vườn ở Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang… bội thu, từ đó người dân trong vùng đổ xô trồng loại cây này. Theo thống kê, tỉnh Hậu Giang hiện có hơn 1.500 ha mít Thái siêu sớm, tăng hàng trăm ha so với năm trước. Khi chưa có thị trường tiêu thụ ổn định sẽ tiềm ẩn nhiều hệ lụy.

Kiểu sản xuất theo “phong trào” cũng là một nguyên nhân khiến dư thừa nguồn cung của một số loại nông sản. Khi nông sản được giá, người nông dân lại tập trung phát triển tràn lan, không ít địa phương nông dân đồng loạt phá cây lâu năm để chuyển đổi sang những cây trồng khác khi thấy giá sản phẩm trên thị trường đang ở mức cao.

Liên kết tiêu thụ kém

Liên kết nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản bước đầu được thực hiện ở nhiều nơi nhưng vẫn lỏng lẻo, sản phẩm chưa tiêu thụ được nhiều. Tình trạng “phá kèo” trong các hợp đồng liên kết vẫn không hiếm nên “được mùa, mất giá” vẫn là bệnh thường gặp của nền sản xuất.

Một nguyên nhân quan trọng của liên kết sản xuất và tiêu thụ còn kém là quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, nên việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào để sản xuất hàng hóa đại trà quy mô lớn ít khả thi. Doanh nghiệp chế biến hoặc bao tiêu sản phẩm khó có thể ký hợp đồng liên kết đơn lẻ với hàng chục hộ nông dân với quy mô sản xuất, trình độ canh tác khác nhau.

Rau an toàn (RAT) của Hà Hội là một ví dụ điển hình. Sản lượng rau, củ của thành phố Hà Nội đạt gần 600.000 tấn/năm, đáp ứng khoảng 60% nhu cầu của người tiêu dùng, còn lại 40% nhập từ các địa phương khác như: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang… và nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy vậy, RAT của Hà Nội cũng khó có thể “chen chân” vào hệ thống các siêu thị, cửa hàng tiện ích. Sản xuất nhỏ lẻ nên không hình thành được các vùng nông sản khiến các doanh nghiệp khó bao tiêu sản phẩm.

Ông Vũ Thanh Sơn, Tổng Giám đốc Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) cho biết: “Những quầy bán RAT trong hệ thống siêu thị của Hapro đang lỗ, lợi nhuận RAT rất thấp không bù được chi phí vận chuyển, bảo quản, tiền điện, mặt bằng… Trong khi đó, việc ký kết hợp đồng với người dân tính ổn định không cao nhất là khi có biến động về giá.”

Chưa dự báo được thị trường

Một trong những điểm yếu của Ngành nông nghiệp hiện nay là chưa có hệ thống thông tin thị trường đồng bộ thống nhất từ Trung ương tới địa phương, bị động với sự lên xuống của giá sản phẩm nông sản. Năng lực phân tích, dự báo, nắm bắt xu hướng thị trường còn hạn chế, kênh chia sẻ thông tin thị trường đến các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất còn yếu và thiếu. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc dư nguồn cung sản phẩm nông sản cục bộ tạo nên điệp khúc được mùa-mất giá.

Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu thị trường nông sản mới chỉ mang tính thời điểm, thời vụ khi có yêu cầu, phần lớn tập trung vào thu thập thông tin giá cả hơn là các thông tin phục vụ phân tích, dự báo; chưa có phương án thực hiện dài lâu, có trọng tâm, trọng điểm cho các sản phẩm được xác định là chủ lực. Đặc biệt, việc tổ chức sản xuất chưa xuất phát từ dự báo cung cầu thị trường...


Ông Ngô Trí Long

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, giải cứu nông sản chỉ là biện pháp tình thế. Sản xuất các loại nông sản cần theo dự báo thông tin thị trường, đánh giá cầu như thế nào để cung không được vượt quá. Nếu cơ quan chức năng không tập trung nghiên cứu thị trường thì bài toán này rất khó có thể giải quyết được.

“Nếu có quy hoạch vùng sản xuất cũng cần linh động theo nhu cầu của thị trường, Hiện chúng ta đang quy hoạch mà không xuất phát từ cầu, quy hoạch có tính chất hình thức, máy móc”.


Chế biến yếu

Nông sản được thu hoạch cùng một thời điểm nhưng chế biến và bảo quản yếu sẽ phát sinh dư thừa và tổn thất cao sau thu hoạch. Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới giá nông sản thường giảm mạnh khi được mùa. Để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo ra lợi nhuận bền vững, giảm tổn thất khi thu hoạch đồng loạt thì chế biến nông sản là giải pháp tất yếu.

Cần tái cơ cấu mạnh mẽ

Nhà nước cần có chính sách đẩy mạnh tích tụ ruộng đất

Theo TS Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, quy hoạch và phát triển những vùng sản xuất nông sản là một trong những yếu tố giải quyết bài toán được mùa mất giá. Thế nhưng để tổ chức được những vùng sản xuất nông nghiệp cần phải tích tụ được ruộng đất. Diện tích canh tác bình quân mỗi lao động nông nghiệp Việt Nam ở mức 0,34 hecta, chỉ bằng từ 0,6 đến 0,8 lần các nước trong khu vực như: Campuchia, Myanmar và Philippines.

Tư duy người lao động ở nông thôn phải có đất và trồng cây lương thực đã không còn phù hợp nữa. Hiện nay nông nghiệp không phải sinh kế duy nhất của cư dân nông thôn. Do đó, chỉ nên hỗ trợ cho những người làm nông nghiệp tốt có điều kiện để tích tụ thêm đất để sản xuất trang trại qui mô lớn. Những người có cơ hội chuyển sang sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp hoặc làm thuê ổn định cần được hỗ trợ bằng chính sách thích hợp để ổn định sinh kế mới.

Cùng với đó, tích tụ ruộng đất phải gắn với vấn đề phát triển nông thôn, có chính sách để có thể thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn, hợp tác với nông dân sản xuất lớn, giải quyết vấn đề đầu vào và đầu ra cho nông nghiệp.

Đẩy mạnh chế biến sâu

Khi 90% nông sản của Việt Nam vẫn được xuất khẩu dưới dạng thô hoặc với hàm lượng chế biến thấp, chất lượng và giá trị thấp. Do giá thành sản xuất cao dẫn đến cạnh tranh kém, bị ép giá trên thị trường. Do đó đòi hỏi phải tăng cường khâu chế biến để đa dạng hóa sản phẩm từ nông sản cũng là giải pháp căn cơ giải quyết tồn đọng trong thu hoạch thời vụ, để tăng giá trị hàng nông sản, bảo quản thời gian dài làm giảm bớt nguồn cung ra thị trường và không tái diễn tình trạng mất giá khi được mùa.

Chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú cho rằng, muốn mở rộng thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ nông sản, Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới trong chế biến chuyên sâu, xây dựng thương hiệu và thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Ông Phú cho rằng, vai trò của Nhà nước và các bộ, ngành liên quan trong việc định hướng sản xuất, tìm đầu ra cho nông sản là vô cùng quan trọng. Nhà nước phải đóng vai trò là “nhạc trưởng”, phải cùng các địa phương nghiên cứu xây dựng quy hoạch vùng. Ví dụ, vùng đất Ninh Bình có khả năng trồng dứa tốt, đất Long An trồng dưa hấu cho năng suất cao, đường giao thông vận chuyển thuận lợi… Với những yếu tố đó, chính quyền địa phương cần lên kế hoạch sản xuất cho nông dân, đưa doanh nghiệp vào cuộc, đưa nhà máy chế biến vào những vùng sản xuất.


Ông Lưu Bích Hồ

Theo chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ, vấn đề cần phải chú trọng đó là làm sao để có được chất lượng nông sản ngày càng tốt hơn. Ví dụ lúa, cây ăn trái, thủy sản muốn có chất lượng tốt hơn thì phải quan tâm đến chất lượng giống cây trồng, vật nuôi.

Với các loại cây ăn trái, chất lượng hạt giống cũng phải đặt lên hàng đầu. Ông Hồ so sánh, chất lượng nhiều loại trái cây của nước ngoài vượt trội so với Việt Nam. Ví dụ, ở nước ngoài, cây có múi thường không có hạt, kích cỡ, chất lượng quả đồng đều, thành phần dinh dưỡng rất cao. Ngay cả gạo cũng vậy, so với gạo của Thái Lan và một số nước, chất lượng nhiều loại gạo của Việt Nam vẫn còn thua kém. Do đó, yếu tố quan trọng nhất vẫn là giống, sau đó mới đến quy trình sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi. Ngoài ra, các vấn đề cơ giới hóa, bảo vệ thực vật, thu hoạch bảo quản đều phải tạo thành quy trình và người sản xuất được hướng dẫn rõ ràng.


Coi trọng thị trường nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản trong quý I/2018 đạt 8,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 4,6 tỷ USD, tăng 9%; Trong thời gian này, nông sản đã xuất siêu 1,81 tỷ USD. Đây được nhìn nhận là mức tăng trưởng ấn tượng, mang tính kỷ lục của ngành nông nghiệp trong nhiều năm trở lại đây.

Những con số trên cho thấy, tiềm năng sản xuất của Việt Nam khá tốt với các loại nông sản có chất lượng cao như: lúa gạo, cá tra, cà phê, tôm… Tuy nhiên, có một thực tế, trong khi nông sản cùng loại trong nước dư thừa, thậm chí đổ bỏ thì Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ USD nhập khẩu sản phẩm cùng loại và về bán với giá cao hơn...

Trong năm 2017, ước tính Việt Nam đã chi hơn 1,55 tỉ USD nhập khẩu rau quả các loại. Riêng trong quý I, nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt đã 5,42 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2017. Dẫn đầu xuất khẩu rau quả vào Việt Nam là Thái Lan, đứng thứ hai là Trung Quốc. Thái Lan đã vươn lên thành thị trường cung cấp rau củ quả lớn nhất cho Việt Nam với gần 50% thị phần.

Hầu như các loại trái cây của nước láng giềng đã có mặt ở khắp các vùng miền, từ siêu thị đến chợ nhỏ của Việt Nam như: Xoài, sầu riêng, măng cụt, me, chôm chôm, bòn bon… Một trong những lý do khiến người tiêu dùng chuộng các sản phẩm “ngoại” hơn đó là chất lượng ngon hơn, mẫu mã đẹp hơn mà giá thành lại rẻ hơn hoặc tương đương với sản phẩm trong nước. Trước thực trạng này, nếu nông nghiệp Việt Nam không cải tiến tốt chất lượng đầu vào từ giống, chi phí sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm... thì trong tương lai nguy cơ hàng ngoại lấn át hàng nội là điều đương nhiên. Khi đó thị phần tiêu dùng trong nước sẽ giảm mạnh, nhường chỗ cho các đối tác nước ngoài. Đây sẽ là thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú chỉ ra một thực tế, hiện nay các sản phẩm nông sản của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài rất khó khăn. Đơn cử, Việt Nam phải mất tới 10 năm đàm phán mới xuất khẩu được lô vú sữa đầu tiên sang Mỹ, mất 4 năm đàm phán mới xuất khẩu được quả xoài sang Australia, và mất 7 năm đàm phán mới xuất khẩu được quả chôm chôm vào Newzealand….

Từ đó, chuyên gia kinh tế khuyến cáo, trong 1000 sản phẩm nông nghiệp, nên chọn những sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả.

Các giải pháp được đưa ra là cần xác định quy mô sản xuất theo từng ngành hàng, cụ thể: sản xuất lúa hay cây ăn trái cần quy mô lớn, tập trung để đưa cơ giới hóa vào sản xuất cũng như đảm bảo chất lượng đồng đều. Cùng với đó, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo chuỗi giá trị, từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản phẩm chế biến; từ sản phẩm chế biến đơn giản sang chế biến sâu; từ sản phẩm giá trị gia tăng thấp sang sản phẩm giá trị gia tăng cao.

Liên kết “6 nhà”

Trong cuộc đối thoại của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với nông dân ngày 9/4 vừa qua, thị trường tiêu thụ nông sản, giải quyết điệp khúc “được mùa-mất giá” cũng được những người nông dân đặt ra với Thủ tướng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặc biệt nhấn mạnh đến việc sản xuất phải gắn với thị trường, trong đó, không chỉ Nhà nước hỗ trợ tìm đầu ra mà chính nông dân và doanh nghiệp phải tính toán đến việc tiêu thụ trước khi sản xuất.

“Tìm thị trường thì Nhà nước cũng phải làm, nhưng người dân và nhà sản xuất cũng phải làm. Khi anh sản xuất thì phải xem thị trường cần gì. Điều này phải đến tận người nông dân và Hợp tác xã. Do đó phải quy hoạch sản xuất bài bản. Vùng này sản xuất cái này, vùng khác cái khác dựa trên lợi thế so sánh. Trước khi gieo hạt, trồng xuống phải xem tiêu thụ ở đâu”- Thủ tướng cho biết.

Thủ tướng nhấn mạnh, với hàng triệu hộ dân mà tự sản, tự tiêu, tự tìm thị trường thì khó, cho nên, các nhà đầu tư, doanh nghiệp, hợp tác xã cùng tham gia với bà con là rất quan trọng. Do đó, cần sự phối hợp giữa 6 nhà: Nhà nông, Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng và nhà phân phối, nếu tách ra là không thành công.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cần rà soát lại hệ thống cảnh báo, thông tin thị trường kịp thời cho các ngành sản xuất nông sản, nên có hệ thống dự báo được khối lượng và giá cả mỗi loại hàng nông sản là bao nhiêu để thông báo cho các địa phương. Ngoài ra, để nâng cao giá trị sản phẩm, Thủ tướng đề nghị ngành nông nghiệp đẩy mạnh chế biến nông sản để chủ động điều tiết thị trường./.