Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Quá trình ra đời và phát triển của nhà nước CHDCND Triều Tiên

Nhân 70 năm thành lập CHDCND Triều Tiên, chúng ta cùng nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của quốc gia có nhiều nét đặc biệt này.


Triều Tiên là một quốc gia có dân số khoảng 25 triệu người, nằm ở nửa phía bắc của bán đảo Triều Tiên/Hàn Quốc, giữa Biển Nhật Bản và Hoàng Hải.

Tên chính thức của nhà nước này là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên, được thành lập vào năm 1948, sau khi Mỹ và Liên Xô giành quyền kiểm soát đối với bán đảo này sau Thế chiến 2.

Triều Tiên là một nước khá khép kín. Trong các năm gần đây, chương trình hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên đã tạo ra áp lực cho nền hòa bình khu vực và thế giới.

Vĩ tuyến 38

Năm 1910, Nhật Bản chính thức sáp nhập bán đảo Triều Tiên/Hàn Quốc mà Nhật Bản đã chiếm đóng 5 năm trước sau cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Trong 35 năm tiếp theo, dưới sự cai trị của Nhật Bản, đất nước này đã trải qua một quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa kiểu thực dân. Tuy nhiên, nhiều người Triều Tiên trong quá trình này đã phải hứng chịu sự áp bức bạo tàn của chế độ quân phiệt Nhật Bản.

Trong Thế chiến 2, Nhật Bản đã đưa nhiều nam giới Triều Tiên/Hàn Quốc ra mặt trận chiến đấu hoặc ép họ lao động trong các nhà máy thời chiến. Trong khi đó, hàng ngàn phụ nữ Triều Tiên/Hàn Quốc bị ép làm “phụ nữ mua vui”, cung cấp dịch vụ sex cho binh sĩ Nhật Bản.

Sau khi Nhật Bản thua trận vào năm 1945, Mỹ và Liên Xô chia Bán đảo Triều Tiên/Hàn Quốc làm 2 khu vực ảnh hưởng dọc theo vĩ tuyến 38.

Vĩ tuyến 38 trên bán đảo Triều Tiên/Hàn Quốc vào đầu Chiến tranh Triều Tiên. Ảnh: Time.

Năm 1948, nhà nước Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc) ra đời ở Seoul, do nhân vật Lý Thừa Vãn có tư tưởng chống cộng đứng đầu.

Sau khi miền Nam bán đảo Triều Tiên tuyên bố thành lập nhà nước Hàn Quốc vào tháng 5/1948 thì vào ngày 9/9/1948, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tuyên bố ra đời.

Ở Bình Nhưỡng, Liên Xô hỗ trợ cho quá trình ra đời của nhà nước non trẻ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Ông Kim Nhật Thành (Kim Il-sung), một chỉ huy du kích kháng Nhật, trở thành Thủ tướng đầu tiên của Triều Tiên.

Chiến tranh Triều Tiên

Do cả chính quyền Kim Nhật Thành và chính quyền Lý Thừa Vãn đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ bán đảo Triều Tiên/Hàn Quốc nên căng thẳng nhanh chóng gia tăng giữa hai miền bán đảo. Năm 1950, chiến tranh giữa CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc nổ ra.

Trong cuộc chiến này, Mỹ đứng về phía Hàn Quốc. Mỹ chỉ huy một lực lượng quân sự Liên Hợp Quốc đông khoảng 340.000 người để đẩy lui quân Triều Tiên khỏi lãnh thổ Hàn Quốc. Triều Tiên nhận được sự hậu thuẫn của Liên Xô. Riêng Trung Quốc đã gửi quân tình nguyện đến Triều Tiên chiến đấu chống lại quân Hàn Quốc và quân Liên Hợp Quốc.

Sau 3 năm chiến đấu máu lửa với thương vong dân thường và quân sự lên tới hơn 2,5 triệu người, hai phe ký thỏa thuận đình chiến để tạm thời kết thúc Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 7/1953. Một khu phi quân sự được bảo vệ nghiêm ngặt với độ rộng khoảng 4km được thiết lập dọc theo vĩ tuyến 38.

Kim Nhật Thành và đường lối Chủ thể

Sau khi Chiến tranh Triều Tiên tạm kết thúc, Kim Nhật Thành xây dựng đất nước Triều Tiên theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa “Chủ thể” (Juche). Nhà nước Triều Tiên kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, tập thể hóa đất nông nghiệp và xác lập chế độ công hữu.

Đất nước Triều Tiên dưới thời ông Kim Nhật Thành và các thế hệ lãnh đạo tiếp theo khá khép kín. Thông tin về nhà nước Triều Tiên thường hiếm hoi so với nhiều nhà nước láng giềng.

Bức ảnh gia đình ông Kim Nhật Thành thời trẻ. Ảnh: ROK Drop.

Việc đi lại của người dân Triều Tiên ra nước ngoài cũng hạn chế. Thành phần dân chúng Triều Tiên về cơ bản vẫn chủ yếu là người Triều Tiên thuần khiết, chỉ có một số lượng nhỏ người Hoa.

Trong giai đoạn đầu sau chiến tranh, nhờ sự đầu tư mạnh vào ngành mỏ, sản xuất thép và các công nghiệp nặng, nền kinh tế quân sự và dân sự của Triều Tiên vượt trội hơn hẳn so với Hàn Quốc. Được Liên Xô hậu thuẫn, ông Kim Nhật Thành đã xây dựng quân đội Triều Tiên trở thành một trong các lực lượng quân sự mạnh nhất thế giới.

Tuy nhiên, vào thập niên 1980, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển mạnh trong khi kinh tế Triều Tiên lâm vào khó khăn, trì trệ.

Nội dung khi không có video

Video clip của Triều Tiên ca ngợi “Lãnh tụ Vĩnh hằng” Kim Nhật Thành.

Năm 1949 ông Kim Nhật Thành trở thành Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên được tạo ra trên cơ sở một số đảng cộng sản trước đó ở Triều Tiên. Ông Kim Nhật Thành được nhân dân Triều Tiên tôn sùng gọi là “Lãnh tụ Vĩ đại”.

Năm 1956, tình trạng chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc dâng cao. Trong bối cảnh ấy, ông Kim Nhật Thành điều chỉnh dần chính sách đối ngoại, từ chỗ thân Liên Xô sang trung lập rồi thân Trung Quốc, sau đó lại quay về độc lập hoàn toàn. Trong các năm 1956-1958, các nhân tố thân Trung Quốc và thân Liên Xô mất dần ảnh hưởng trong Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên.

Năm 1966, sau khi Thủ tướng Liên Xô Kosygin thăm Bình Nhưỡng, ông Kim Nhật Thành công bố đường lối độc lập của Đảng Lao động Triều Tiên, trong đó nhấn mạnh các nguyên tắc “bình đẳng, chủ quyền, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của các đảng cộng sản và xã hội chủ nghĩa”.

Từ đường lối trên, các nhà lý luận của Đảng Lao động Triều Tiên đã phát triển 4 nguyên tắc Chủ thể (Juche), được hiểu nôm na là “tự lực cánh sinh”, như sau: Tự chủ về tư tưởng, Độc lập về chính trị, Tự túc về kinh tế và Tự lực về quốc phòng.

Các kế hoạch kinh tế thời Kim Nhật Thành

Vào cuối thập niên 1960, nhà nước Triều Tiên thực hiện chương trình tăng cường sức mạnh quân đội. Họ đã xây thêm các sân bay quân sự và cả nhà chứa máy bay ở dưới lòng đất. Ngoài ra, họ còn duy trì một lực lượng quân đội thường trực lớn và một lực lượng dân quân hùng hậu.

Việc ưu tiên phát triển quân sự song hành với việc đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tự lực. Với sự trợ giúp của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu, Triều Tiên đã thực hiện một loạt kế hoạch kinh tế và thu được những thắng lợi đáng kể.

Tháp Chủ thể (Juche) ở thủ đô Bình Nhưỡng. Ảnh: Trover.

Tuy nhiên sau đó trợ giúp nước ngoài giảm mạnh. Đầu tiên Liên Xô bắt đầu giảm viện trợ vào cuối thập niên 1950. Sau đó Trung Quốc khi trải qua Cách mạng Văn hóa vào giữa thập niên 1960 cũng giảm viện trợ. Những điều này đã ảnh hưởng rất tiêu cực đến kế hoạch kinh tế 7 năm (1961-1967) của Triều Tiên, khiến Triều Tiên phải kéo dài kế hoạch này thêm 3 năm.

Hai kế hoạch kinh tế tiếp theo (1971-1977 và 1978-1984) cũng không đạt được mục tiêu đề ra. Kinh tế Triều Tiên giai đoạn này gặp khó khăn do viện trợ nước ngoài giảm và Triều Tiên đầu tư nhiều cho quốc phòng.

Khi Triều Tiên thông qua bản Hiến pháp mới vào năm 1972, chức Thủ tướng được chuyển đổi thành chức Chủ tịch nước và ông Kim Nhật Thành tiếp quản vị trí mới. Ông cũng đồng thời giữ chức danh Chủ tịch (lúc này được đổi thành Tổng bí thư) của Đảng Lao động Triều Tiên.

Vào năm 1980, Đảng Lao động Triều Tiên tổ chức Đại hội toàn quốc. Trong quá trình Đại hội, ông Kim Nhật Thành giới thiệu con trai mình là Kim Chính Nhật (Kim Jong-il) vào 3 vị trí quan trọng trong đảng này, đưa ông Kim Chính Nhật trở thành người kế vị trong tương lai. Ông Kim Chính Nhật dần dần nắm giữ quyền lực cho đến thời điểm cha ông qua đời vào tháng 7/1994.

Thời kỳ Kim Chính Nhật và bước ngoặt hạt nhân

Sự tan rã của Liên Xô và khối Đông Âu đã làm tổn thương thêm nền kinh tế Triều Tiên lúc đó và khiến cho chế độ Triều Tiên còn mỗi duy nhất một đồng minh là Trung Quốc. Năm 1994, Kim Nhật Thành qua đời và người con trai là Kim Chính Nhật kế vị.

Nhà lãnh đạo mới của Triều Tiên giới thiệu chính sách mới “Tiên quân” – ưu tiên cho quân sự. Ông xây dựng Quân đội Nhân dân Triều Tiên (KPA) thành một lực lượng chính trị và kinh tế hàng đầu của quốc gia này.

Trong thập niên 1990, tình trạng lũ lụt hoành hành là một trong các nguyên nhân gây ra nạn thiếu đói và suy dinh dưỡng khá nghiêm trọng tại đất nước này vào giai đoạn đó.

Người dân Triều Tiên đang tỏ lòng kính cẩn trước 2 bức tượng khổng lồ của lãnh tụ Kim Nhật Thành (bên trái) và lãnh tụ Kim Chính Nhật. Ảnh: AP.

Sau đó các khó khăn kinh tế của Triều Tiên giảm đi một chút do mối quan hệ với Hàn Quốc được cải thiện. Hàn Quốc khi ấy theo đuổi chính sách “Ánh Dương”, dành sự viện trợ vô điều kiện cho Triều Tiên vào đầu thập niên 2000.

Trong khoảng thời gian đó, Triều Tiên tiến gần tới chỗ xác lập trạng thái hòa bình với Mỹ. Thậm chí Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Madeleine Albright đã được tiếp đón ở Bình Nhưỡng vào năm 2000.

Tuy nhiên mối quan hệ giữa 2 miền bán đảo Triều Tiên cũng như giữa Triều Tiên và phương Tây xấu đi nhanh chóng.

Triều Tiên muốn trở thành một quốc gia hạt nhân. Ông Kim Chính Nhật trước đó cam kết tuân thủ Hiệp ước Không phổ biến Vũ khí hạt nhân (NPT) ký vào năm 1995. Nhưng các báo cáo vào đầu những năm 2000 bắt đầu cho thấy tại Triều Tiên có các cơ sở hạt nhân dưới lòng đất và nước này đang nghiên cứu cách làm giàu urani.

Đến năm 2003, Triều Tiên đã rút khỏi NPT, trục xuất các thanh sát viên vũ khí quốc tế và nối lại việc nghiên ứu hạt nhân tại cơ sở ở Yongbyon. Ba năm sau, chính quyền ông Kim Chính Nhật tuyên bố họ đã tiến hành cuộc thử nghiệm hạt nhân dưới lòng đất đầu tiên.

Nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Chính Ân

Sau khi ông Kim Chính Nhật đột ngột qua đời vào tháng 12/2011, quyền lực được chuyển giao cho người con gần út của ông – Kim Chính Ân (Kim Jong-un), lúc đó mới 27 tuổi.

Từ khi lên nắm quyền, ông Kim Chính Ân đã xây dựng cho mình hình ảnh là phiên bản hiện đại của người ông nội. Ông đã thực hiện nhiều biện pháp để củng cố quyền lực.

Một cuộc diễu binh của Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Ảnh: Getty.

Dưới thời ông Kim Chính Ân, Triều Tiên tiếp tục phát triển kho vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Mối quan hệ với Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung trở nên đặc biệt căng thẳng.

Năm 2013, vụ thử bom hạt nhân lần thứ 3 của Triều Tiên đã dẫn tới việc Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc cấm vận thương mại và đi lại đối với Triều Tiên. Bản thân đồng minh duy nhất và đối tác thương mại chính của Triều Tiên là Trung Quốc cũng chính thức lên tiếng phản đối Triều Tiên sau vụ thử này.

Trong quãng thời gian năm 2017, mối căng thẳng giữa Triều Tiên và Mỹ lên tới một cấp độ chưa từng có tiền lệ.

Năm 2017 Triều Tiên liên tục thử tên lửa đạn đạo. Triều Tiên đã phóng thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa của mình, với tầm bắn vươn tới lục địa Mỹ. Triều Tiên cũng đe dọa phóng tên lửa quanh đảo Guam của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Trong năm 2017, Triều Tiên đã thực hiện vụ thử bom hạt nhân thứ 6 – lần này là một trái bom nhiệt hạch có sức công phá cực mạnh, gấp 7 lần sức công phá của bom nguyên tử mà Mỹ từng ném xuống Hiroshima và Nagasaki.

Các động thái trên đã vấp phải những lệnh trừng phạt nặng nề của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và phản ứng tức giận của Tổng thống Mỹ Donald Trump, khiến cộng đồng thế giới lo ngại về khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên.

Thế nhưng tình hình đã bất ngờ diễn biến mau lẹ theo chiều hướng hòa dịu vào năm 2018, với hai cuộc gặp Thượng đỉnh liên Triều và một cuộc họp Thượng đỉnh Mỹ-Triều lịch sử, làm dấy lên hy vọng về hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và khả năng phi hạt nhân hóa bán đảo này.

(Bài này dựa trên các thông tin từ trang History.com và Britannica.com)