Ký ức chiến tranh của một bác sỹ quân y từng 7 lần bị thương

Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Vừa ẩn nấp tránh máy bay địch đi càn vừa mổ cho thương binh, mắc màn giữa đàn “muỗi kêu như sáo thổi” để thực hiện ca mổ hay những tháng ngày “mưa rừng cơm vắt”… được tái hiện lại rất thực đến từng chi tiết qua lời kể của ông Giang Văn Toản, người bác sĩ chiến trường năm xưa.


C

ứ gần đến ngày 30/4 - Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những giờ phút chiến tranh gian khổ nhưng đầy thiêng liêng ấy lại từ ký ức lại ùa về trong tâm trí ông Giang Văn Toản (ở thôn 5, xã Tân Hoà, huyện Quốc Oai, Hà Nội).

Người bác sĩ quân y đã dành những năm tháng của tuổi 20 cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam và bảo vệ biên giới Tây Nam giờ đây đã là một ông lão 76 tuổi. Được sự giới thiệu của những người lính Trung đoàn 320, Bộ Quốc phòng, đơn vị chủ lực đầu tiên vào giải phóng miền Nam năm xưa (hiện nay là Trung đoàn 320 trực thuộc tỉnh đội Đồng Tháp), chúng tôi tìm gặp ông Toản để nghe ông kể về những năm tháng hào hùng ấy. Ấn tượng đầu tiên với chúng tôi đó là một cụ ông có gương mặt hiền lành, phúc hậu, với mái tóc bồng bềnh đã bạc trắng.

“Tôi nhập ngũ tháng 3/1964, lúc đó mới 20 tuổi, biên chế vào Trung đoàn 320 của Bộ Quốc phòng, cũng là đơn vị chủ lực đầu tiên vào giải phóng miền Nam. Sau thời gian huấn luyện, học chính trị tại Xuân Mai (Hà Tây cũ), tháng 8/1964, chúng tôi hành quân vào chiến trường miền Nam, từ đây bắt đầu những ngày tháng gian khổ của người lính. Chúng tôi được đi ô tô vào đến Quảng Bình rồi bắt đầu đi bộ, con đường hành quân là đường Trường Sơn, khi ấy chỉ là con đường mòn nhỏ, chúng tôi vừa đi vừa tránh địch, rõng rã 4 tháng mới vào tới chiến trường Tây Nguyên”, ông Giang Văn Toản nhớ lại.

Thông minh, nhanh nhẹn nên vừa vào chiến trường, chiến sĩ Giang Văn Toản đã được đơn vị cho đi học học y tá (năm 1965); một năm sau đã chuyển sang học y sĩ và năm 1967 lại được cử đi học lên bác sĩ Ngoại khoa.

Từ năm 1968, chiến sĩ Giang Văn Toản làm trợ lý quân y của sư đoàn 1 (lúc đó Trung đoàn 320 đã nhập về Sư đoàn 1), đóng quân ở Tây Nguyên. Suốt 4 năm trời ở chiến trường Tây Nguyên, ông vừa chiến đấu vừa chữa trị cho thương binh và học nghề y. Đơn vị của ông lúc đó đã đánh từ Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk đến Bình Định, Phú Yên cho tới Bình Long, Phước Long (nay thuộc tỉnh Bình Phước).

Năm 1969, sau khi học xong ở nhà thương thuộc sư đoàn 1, chiến sĩ Giang Văn Toản lúc đó đã trở thành bác sĩ ngoại khoa được phân trở về đơn vị là Trung đoàn 320 với nhiệm vụ phụ trách bệnh xá, là Đại đội trưởng quân y của Trung đoàn. Đồng thời ông còn phụ trách giảng dạy lớp y tá phục vụ chiến trường, vừa đảm nhiệm chăm sóc bệnh nhân.

Nhận nhiệm vụ mới, cũng từ đây người bác sĩ trẻ gắn bó với đơn vị cùng những trận đánh chủ lực, cứu sống nhiều thương binh trọng thương.

Đời lính xông pha trận mạc, với một bác sĩ chiến trường ở thời chiến đủ thứ thiếu thốn, khó khăn không gì tả xiết, không chỉ làm nhiệm vụ cứu chữa thương binh, nhiều lúc bác sĩ cũng phải cầm súng. Nhất là thời gian đơn vị của ông chiến đấu tại chiến trường Đồng Tháp Mười.

“Có trận đánh, địch huy động quân số đông có xe tăng yểm trợ tấn công mạnh mẽ, liên tục trong nhiều này. Đơn vị của tôi đã hy sinh gần hết. Lúc đó chúng tôi “chóng mặt” với việc tiếp nhận điều trị. Có ngày tới 80 chiến sĩ trọng thương, phần lớn là những ca cụt chân, cụt tay, vết thương ổ bụng rất nặng…”, ông nhớ lại.

Trong chiến tranh, tất cả mọi thứ đều thiếu thốn, có những ca mổ, chỉ chặt 4 cành trâm bầu đóng xuống và buộc vào nhau, trải ni-lon và tấm khăn trắng lên thế là thành bàn mổ. Đó là chưa kể muỗi Đồng Tháp nhiều “như trấu”, các y tá, bác sĩ phải xoa thuốc muỗi kín khắp chân tay, thậm chí phải mắc màn và ở trong màn để mổ cho thương binh bởi nếu không, mùi máu có thể khiến muỗi bay vào đầy ổ bụng trong lúc mổ. Người dân ở đó thường nói “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh”.

Lúc đó “phòng mổ” cũng chủ yếu dùng đèn pin để chiếu sáng. Để tránh địch phát hiện khi che giấu thương binh, các y bác sĩ phải cắt lá trâm bầu cuốn đèn lại chỉ để một lỗ nhỏ và soi. Chỉ khi ở khu vực nào cách xa địch và có điều kiện, mới dùng đèn măng-xông để soi mổ.

Bác sĩ Toản vẫn còn nằm lòng một ca mổ mà bây giờ nghĩ lại ông vẫn rùng mình. Đó là vào thời điểm sau một trận đánh năm 1972, khi trạm xá tiếp nhận một thương binh nặng phải mổ lấy đạn, khâu ổ bụng. Dựng bàn xong, đang tiến hành mổ thì xe tăng địch tới, bác sĩ Toản phải cố gắng kết thúc thật nhanh, đến khi xe tăng chỉ cách nơi bàn mổ khoảng 100 mét. Lúc đó, súng máy trên xe tăng dịch bắn xối xả khiến cây cối xung quanh đổ rạp hết, nhưng đang thực hiện ca mổ dở, ông vẫn phải cố gắng làm nốt. Kịp xong lúc xe tăng vào sát gần, nhưng thương binh vẫn chưa tỉnh thuốc mê, ông đành cùng đồng đội khiêng thương binh xuống xuồng và chống xuồng chạy.

“Cũng có những lúc địch đánh ác liệt đến nỗi, chúng tôi không dám ngồi cao mà phải cúi thật thấp trong suốt ca mổ, khi xong thì người mỏi rã rời”, bác sĩ Toản kể lại.

Kỹ thuật mổ, điều trị của bác sĩ Toản ngày càng “lên tay” với tỷ lệ chữa khỏi cho thương binh tới 90%. Tuy nhiên, không gì khổ bằng thiếu thuốc điều trị. Những năm cuộc chiến ác liệt, tiếp tế khó khăn, nhiều lúc không có thuốc điều trị, nhân những lần chữa trị miễn phí cho bà con ở địa phương, bác sĩ Toản phải nhờ bà con mua hộ thuốc men, bông băng… cho chiến sĩ.

“Biết chúng tôi thiếu thuốc, bà con rất nhiệt tình giúp đỡ, họ phải đi vào vùng địch, đi bằng thuyền ba lá tự thiết kế có hai đáy để mua thuốc và giấu thuốc mang về cho bộ đội, tránh bị phát hiện”.

Nhiệt tình chữa trị, hết lòng vì anh em chiến sĩ nhưng để có thể đảm bảo chữa trị thành công trong những tình huống ngặt nghèo, bác sĩ Toản đã phải nghiên cứu, nghĩ ra đủ cách.

Ông kể: “Vết thương bom đạn khủng khiếp, có những thương binh với những vết thương sâu, ngõ ngách như hang cua, thường thiếu thuốc kháng sinh điều trị nên có rất nhiều dòi. Có ca tôi phải dùng thuốc “kí ninh” (thuốc điều trị sốt rét) pha với nước cất để bơm thẳng vào vết thương, khiến những còn dòi to như đầu đũa bò hết ra, sau đó mới bơm trực tiếp kháng sinh vào điều trị”.

“Cái khó ló cái khôn”, giữa rừng hết thuốc, người bác sĩ quân y và đồng đội còn nghiên cứu, lấy mật ong rừng để xử lý vết thương. Với những vết thương chưa đủ điều kiện để mổ ngay, nếu dùng mật ong bơm vào sẽ cho hiệu quả rất tốt, cả chục ngày sau vết thương vẫn đỏ, không bị hoại tử, không bị mùi hôi, khá sạch. Vì vậy mật ong rừng đã trở thành một phương pháp mà ông thường áp dụng điều trị vết thương cho thương binh. Hay lúc hết dịch truyền, bác sĩ quân y còn áp dụng dùng nước dừa truyền trực tiếp cho thương binh thay dịch truyền.

“Chúng tôi phải chọn loại dừa bánh tẻ mới có đủ lượng đường cần thiết, hái xuống cẩn thận, không được làm rơi xuống đất, sau đó lấy dao nhẹ nhàng gọt đến mắt quả dừa và châm kim trực tiếp, dốc lên để truyền thẳng cho thương binh. Mỗi quả dừa được khoảng nửa lít nước, chỉ cần truyền khoảng 300ml là đủ. Những khi hết dịch truyền, nhờ cách này chúng tôi đã điều trị được cho những thương binh bị tiêu chảy, mất nước…”

Những lúc ngơi tay, bác sĩ Toản lại tập trung vào nghiên cứu chuyên môn, lý thuyết các mặt bệnh đã được học trong nhà trường. Cuốn sổ tay nhỏ luôn bên người là những gì người bác sĩ tự tóm lược, viết và vẽ minh hoạ lại rất chi tiết, tỉ mỉ để có thể ôn lại bất cứ lúc nào.

Ngày chiến thắng lịch sử, đất nước hoàn toàn giải phóng đối với bác sĩ quân y Giang Văn Toản và đồng đội là ngày vui khôn siết.

Vẫn nhớ thời khắc lịch sử ấy, bác sĩ Giang Văn Toản kể: “Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị tôi được cử lên biên giới Tây Nam để nhận quân, Sư đoàn của tôi được lệnh đánh vào Mỹ Tho. Nhiệm vụ lúc đó của đơn vị tôi là cắt Quốc lộ 4, ngăn không để quân địch từ Sài Gòn chạy lên miền Tây. Trong những ngày gần đến chiến thắng 30/4, cuộc chiến vô cùng ác liệt, ngày đêm pháo bắn nổ như ngô rang, liên hồi... Lúc đó chúng tôi cũng không đủ điều kiện để điều trị đầy đủ cho thương binh, đành chỉ bơm tạm mật ong vào vết thương và băng bó lại. Đến ngày 27- 28/4/1975, sư đoàn tôi đang đánh cầu Long Định, chúng tôi đang nằm trong vòng vây quân địch, tất cả vẫn bám trụ đến cùng. Đang lúc nguy cấp thì khoảng 9h sáng ngày 30/4/1975, chúng tôi nghe tin địch đầu hàng. Mừng quá, tất cả cùng chạy ra xem thì thấy quân địch đã bỏ hết súng ống trên đường tháo chạy, thậm chí xe tăng của chúng vẫn nổ máy, cả trực thăng cũng bỏ lại trên đường… Chúng tôi sung sướng quá liền đổ hết ra đường, reo hò mừng đất nước đã hoà bình”.

Cũng sau ngày vui độc lập, bác sĩ quân y Giang Văn Toản mới kịp nhớ tới chuyện lập gia đình, lúc đó cũng đã 31 tuổi. Sau khi giải phóng khoảng 5 tháng, ông mới xin về phép một tháng và lấy vợ.

Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, năm 1979, ông lại tiếp tục cùng đơn vị nhận nhiệm vụ lên đường sang giúp nước bạn Campuchia. Đảm nhiệm vị trí Trưởng khoa ngoại, Bệnh xá Sư đoàn 8 và phụ trách đội Phẫu thuật, ông lại tiếp tục 3 năm vào chiến trường, lăn xả cùng các chiến sĩ.

Không phải bác sĩ là chỉ có nhiệm vụ điều trị cho thương binh. Giữa nơi bom rơi đạn lạc, chính bác sĩ Giang Văn Toản cũng bị thương nhiều lần, nhưng ông gạt đi đau đớn của mình để cứu chữa cho đồng đội.

Trong 1 đêm quân Pol Pot đánh tập kích, ông bị thương ở tay do mảnh B41 bắn vào. Lúc đó, cũng có một ca bị thương ở bụng; bác sĩ Toản chỉ kịp băng tay lại và nén đau đớn, thực hiện xong ca mổ cho đồng đội, sau đó mới theo bệnh nhân cùng chuyển tới bệnh viện quân y ở thị xã Kiến Tường (Long An) điều trị.

“Lúc đó, tay tôi bị thương và bị bắn nát, dính đầy bùn đất. Một bác sĩ mới vào nghề đã xử lý vết thương cho tôi nhưng do chưa có kinh nghiệm nên đã cặp đúng dây thần kinh trụ của cánh tay. Lúc đó tôi tỉnh táo nên biết được tình hình, kịp thời hướng dẫn bác sĩ đó thao tác đúng và tránh được nguy cơ bị teo ngón tay, khoèo tay”, ông nhớ lại.

Trong những năm tháng tham gia chiến trường, bác sĩ Toản đã bị thương 7 lần, người vẫn còn chi chít những vết sẹo. Trong đó, đầu tiên là lần lính địch bắn bị thương vùng miệng làm gãy 5 cái răng và gãy tay phải. Trở về khi là thương binh 71%, nhưng với bác sĩ quân y Giang Văn Toản, ông luôn nghĩ mình vẫn còn may mắn hơn rất nhiều đồng đội đã nằm lại chiến trường. Ông vẫn còn nhớ Trung đoàn 320 của ông xuất phát từ Bắc vào Nam với 2.500 chiến sĩ, thì đến ngày chiến thắng trở về chỉ còn lại khoảng 20 người.

Có lẽ những ngày tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt ấy quá sâu đậm trong trí nhớ người bác sĩ quân y năm nào. Bởi vậy ông vẫn luôn nâng niu gìn giữ những bức ảnh cùng đồng đội đã mờ và vuốt phẳng phiu từng trang giấy của những cuốn sổ ghi chép, dù những trang giấy đã hoen ố, nhiều trang đã không còn lành lặn./.

Nội dung khi không có video