Hang Én - Hành trình vào vương quốc người khổng lồ

Báo Điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Nếu có 10 người biết đến Sơn Đoòng, tôi cho rằng chỉ cùng lắm 3 người biết đến Hang Én. Sự kì vĩ của hang động lớn nhất thế giới đã che mờ những hàng xóm của nó, từ khi được phát hiện năm 2009. Và bởi vì Phong Nha, Thiên Đường đã quá quen thuộc, còn Sơn Đoòng chưa trong tầm tay, thì tại sao ta không lên đường, chinh phục một thành viên khổng lồ khác của vương quốc hang động Quảng Bình. Hang Én chính là hang động lớn thứ 2 ở Việt Nam, lớn thứ 3 trên thế giới (thứ 2 là hang Deer ở Malaysia).

Ngày hè đầu tháng 7, bay từ Hà Nội vào và gần 1 giờ ô tô từ TP Đồng Hới đưa chúng tôi đến vùng quê yên ả Phong Nha, huyện Bố Trạch. Sông Son đẹp như sơn nữ, lặng lẽ trôi dưới chân những dãy núi đá vôi bạt ngàn phía tây Quảng Bình. Chủ nhà bungalow vui vẻ khoe cuộc sống đổi thay sau nhiều năm nhờ du lịch, nhưng thoáng chút buồn với khung cảnh lác đác sau Covid-19. Tín hiệu vui là khách Việt đã quan tâm và tham gia nhiều hơn vào các tour mạo hiểm khám phá hang động, thay vì toàn khách Tây như trước, một phần cũng nhờ chính sách giảm giá, kích cầu mạnh mẽ của ngành du lịch. Hỏi đã check in bao nhiêu hang động ở quê hương rồi, anh cười "Phong Nha - Kẻ Bàng có hơn 300 hang động, đi tới bao giờ cho hết".

8 giờ sáng, hành trình Hang Én bắt đầu tại văn phòng công ty Oxalis, đơn vị chuyên nghiệp tổ chức các tour khám phá hang động Quảng Bình, trong đó có Sơn Đoòng, Hang Tiên, Hang Va, Tú Làn... Đoàn Hang Én chúng tôi hôm nay có 16 người, phần lớn đều trẻ, chăm chú nghe giới thiệu, ký giấy miễn trừ trách nhiệm cũng như nai nịt thiết bị đầy đủ trước khi lên đường. Hành trình nghe thấy "oải" nhưng cũng đầy háo hức.

Xe chạy bon bon vào Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, con đường nhanh chóng chìm trong cây lá xanh mướt và đá vôi xám ngút ngàn tầm mắt. Từ đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, chúng tôi cứ thế tiến sâu vào trong rừng già. Giữa đại ngàn Trường Sơn, tiếng gió, hương rừng, mùi của cuộc phiêu lưu trước mắt khiến ai nấy đều phấn khích.

Đồng hành với đoàn là 4 chàng trai (2 hướng dẫn viên, 2 trợ lý an toàn), vui tính, dễ mến với chất giọng Quảng Bình đặc trưng. Nhóm porter 13 người (gồm đầu bếp, vận chuyển đồ đạc) đã đi trước đoàn. Rời đường cái, theo lối mòn của người dân bản địa, từng người từng người nối nhau đi vào hoang dã. Chỉ sau vài mét, cửa rừng khép lại phía sau lưng.

Chặng đầu tiên đổ dốc Ba Giàng, băng qua khu rừng nguyên sinh đẹp mê mải. Đường mòn lúc xuyên bức tường cây, lúc men theo mép vực, lúc tảng đá lớn chắn ngang, lúc rễ cây trườn bò trên mặt đất như bậc thang tự nhiên. Ngẩng đầu lên là hàng thân cây vươn cao vút che rợp ánh nắng, nhìn xuống chân là muôn loài kỳ hoa dị thảo, những đàn kiến to lớn nối nhau hàng đàn, chú ve sầu lột xác để lại chiếc vỏ trống trơn. Không khí trong như nước hồ thu, lồng ngực hít hà thỏa thuê thứ cảm xúc tự do đã lâu rồi chưa gặp.

Các hướng dẫn viên hỗ trợ chúng tôi vượt từng chướng ngại, không quên kể về sự gắn bó khăng khít và những giá trị bền vững mà rừng đã mang lại cho người dân nơi đây. Du khách được khuyến cáo không tự tiện bẻ cây hái lá, và tất nhiên, dù một cọng rác cũng được thu dọn cẩn thận. Câu chuyện vui khiến bước chân đỡ mỏi, nhưng mồ hôi vẫn tí tách rơi, có người trượt dốc cả tay, chân lẫn... mông. Vì thế mà khi nghe tiếng con suối đầu tiên, tiếng reo vui như vỡ òa. Dòng nước trong mát rượi, bướm dập dìu bay trên bờ đá, đẹp như chốn bồng lai.

12 giờ, đoàn dừng chân ở bản Đoòng, ăn trưa và tiếp nước. Đây là bản của người Bru - Vân Kiều, chỉ có 9 hộ dân với 43 nhân khẩu, sống biệt lập giữa rừng sâu, trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia - Di sản thiên nhiên thế giới. Nhà gỗ đơn sơ nhìn thấy cả mây, nhưng đã có điện mặt trời và nước sạch, cuộc sống ngày càng được cải thiện hơn nhờ sự quan tâm của Nhà nước và các tổ chức tình nguyện.

Chặng đường tiếp theo chừng 6km, không còn dốc cao ngất mà băng qua những vạt rừng dây leo phủ ngang đầu, hai bên bạt ngàn chuối rừng, rau tàu bay xanh non gợi nhớ câu chuyện thời kháng chiến. Chúng tôi hái nụ hoa dại làm "phi tiêu", đùa giỡn cười vang rừng như con trẻ, nhưng vẫn nhớ lời dặn tránh xa cây Nàng Hai, "nàng" có thể gây ngứa ngáy không thôi với những ai lỡ dại chạm vào.

Khung cảnh đẹp đến mức vài người cao hứng cất tiếng hát. Chúng tôi đang đi giữa thung lũng mang tên Rào Thương, con suối chảy trong lòng thung lũng. Suối không sâu, mực nước cao nhất chỉ qua đầu gối. Lòng suối nhiều đá cuội tròn xoe óng ánh, cá từng đàn tung tăng và nước mát rượi tê từng đầu ngón chân, khiến cả bàn chân như được mát-xa sau mỗi chặng cuốc bộ mỏi mệt.

Người ở đây ví Rào Thương như một thiếu nữ tinh nghịch, bởi nàng lấp ló thoắt ẩn thoắt hiện sau mỗi góc núi, vạt rừng, lúc thì nhỏ bé men vách đá dựng đứng lởm chởm, lúc lại mở rộng mênh mang cả trăm mét. Còn tôi, sau vài chục lần lội suối - lên bờ và bước đi với đôi giày nặng trịch đầy nước thì cho rằng, đó phải là một cậu nhóc thích trêu gan, dẫn đường tận tụy đấy, nhưng vẫn không quên chơi trốn tìm với đoàn khách lạ.

Giữa trưa, bóng người càng lọt thỏm giữa thung lũng rộng lớn. Vách đá vôi cứ thế nối nhau bao bọc, dựng lên bức tường thành hùng vĩ bốn bề, mây trắng bay như đuổi nhau trên nền trời xanh ngăn ngắt, phả xuống cái nắng chói chang của mảnh đất miền Trung. Tiếng chim đâu đó vọng về từ xa xăm, câu chuyện của những người bạn đồng hành cũng thì thầm, như sợ đánh thức những loài muông thú vẫn còn in dấu chân trên bãi cát.

Và thật bất ngờ, sau một góc khuất, con đường mòn dẫn chúng tôi đến chân một ngọn núi lớn chắn ngang mặt, sừng sững cửa hang cao ngất phía trên. Đây rồi, Hang Én!

Hang Én được khảo sát và công bố vào năm 1994 bởi đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh. Hang có 3 cửa, nhưng chỉ 2 cửa thuận tiện để ra vào. Cửa vào hướng Đông Nam rộng gần 100m, ngăn đôi bởi một trụ đá lớn cùng bãi đá trầm tích. Cả nhóm "lên đồ", đội mũ bảo hộ, bật đèn đeo đầu, bắt đầu tiến sâu vào lòng hang. Một trong những điều tạo nên sự đặc biệt của Hang Én chính là dòng suối xuyên suốt qua 2 cửa hang. "Cậu nhóc" Rào Thương tới đây như đã lớn hơn chút, yên ả dẫn chúng tôi nghiêng qua vách trần hẹp, leo lên những dốc đá lớn lởm chởm.

Chạm đích, một cảnh tượng kỳ diệu bất ngờ bày ra trước mắt. Hang Én dài gần 2km, nhiều chỗ rộng 170m, cao 120m. Nhưng những con số thống kê ấy chẳng thể nào mô tả hết không gian kỳ vĩ mà tôi đang chứng kiến. Vòm hang khổng lồ, lớn đến mức có thể chứa vài tòa chung cư. Một giếng trời lớn đem ánh sáng vào lòng hang, đúng nơi dòng suối đổ về hồ nước xanh màu ngọc bích, kề bên bãi cát tựa như bãi biển thu nhỏ.

Từ nơi chúng tôi đứng nhìn xuống, ấn tượng thị giác càng lớn hơn. Những chiếc lều trại phía xa bé tí xíu dưới vòm hang cao ngỡ bất tận. Chúng tôi như hóa thành người tí hon, đang lỡ chân lạc bước vào vương quốc của những gã khổng lồ.

Từ đây nhìn lên trần hang có thể thấy cơ man nào là thạch nhũ muôn hình vạn trạng, và những tổ én. Thật ngạc nhiên khi biết Hang Én không chỉ là nơi sinh sống của hàng ngàn, hàng vạn con chim én, đây cũng là nhà của tộc người Arem từ xưa kia. Họ ăn lông ở lỗ trong hang, dùng sợi dây đuôi vượn leo lên vách hang và bắt én non làm thực phẩm. Sau khi được phát hiện và đưa về định cư ở đường 20 Quyết Thắng như bây giờ, họ chỉ còn vào hang ngày lễ hội, bắt én để cảm tạ thần rừng.

Chiếc bè phao đưa cả đoàn băng qua hồ, nhận lều trại và nghỉ ngơi trong khi đội porter chuẩn bị bữa tối. Sau ngày dài, ai nấy đều như chim xổ lồng, lao mình xuống hồ nước thỏa thuê vẫy vùng. Tôi ngâm mình trong làn nước xanh, ngắm nhìn hàng vạn con én trở về trong ánh chiều tà. Tiếng ca ríu rít của chúng vang vọng, hòa cùng tiếng rừng già mênh mang.

Đêm trong Hang Én thật kỳ diệu. Giếng trời là cánh cửa sổ khổng lồ, cho chúng tôi ngắm nhìn những chòm sao chậm rãi trôi qua khoảng trời riêng của mình. Thật khó có thể tin rằng, tôi đã trải qua một ngày không internet, không cả một cột sóng điện thoại. Từ khi bước vào rừng, mọi liên hệ với thế giới bên ngoài bị cắt đứt, chỉ các bạn hướng dẫn viên có thể gọi điện thoại vệ tinh khi có việc khẩn cấp. Trong hang thì có mạng, rất căng. Nhưng là ...mạng nhện.

Nhưng cũng nhờ vậy, thiên nhiên đã đến với chúng tôi một cách nguyên sơ nhất. Hành trình này đáng nhớ không đơn thuần vì cảnh đẹp, còn vì những trải nghiệm tuyệt vời. Hang Én đẹp, nhưng có lẽ sẽ chẳng kỳ diệu đến thế nếu không có những con dốc cao, những con suối dài. Trong giấc ngủ, tôi mơ màng tưởng như trở lại giấc mơ tuổi nhỏ, thấy mình rơi vào cuộc phiêu lưu thần tiên đến một thế giới khác.

Buổi sáng khác lạ đánh thức tôi dậy không cần chuông báo thức, đầu óc thảnh thơi như cỏ cây tắm gội sau cơn mưa đêm. Trong lúc mọi người ăn sáng, tôi pha một tách cà phê hoà tan, lững thững đi ven hồ nước, ngắm như thôi miên ánh nắng đang nhảy múa bên ngoài. Thật tiếc vì hiện tại đang ở giữa mùa hè. Nếu tới đây vào tháng 2, tháng 3, mặt trời sẽ ban tặng cho Hang Én một món quà tuyệt vời. Sunbeam - một cột nắng khổng lồ sẽ rọi thẳng vào hang, thay vì đem ánh sáng trải đều không gian như bây giờ. Trên cây cầu gỗ ngả xuống hồ, cô gái trong đoàn biểu diễn vài động tác yoga uyển chuyển, tắm trong ánh nắng mát lành của ngày mới. Tôi tin đây là một trong những sân khấu tuyệt vời nhất của cô.

Ảnh: Oxalis Adventure

Ngày thứ 2 tiếp tục với hành trình khám phá trong lòng Hang Én. Chúng tôi bám nhau vượt lên trên những dốc đá, hang càng mở ra không gian kỳ vĩ hơn. Qua một góc, những góc vòm hang khổng lồ hiện ra, tròn hun hút như hố đen vũ trụ, ẩn giấu những hóa thạch có niên đại 300 triệu năm. Phía bên kia, những tảng đá kích cỡ cả chục mét là dấu tích do trần hang sụt xuống, lũ cuốn qua hàng triệu năm.

Xuyên qua hang, chúng tôi lại gặp Rào Thương quyến luyến, uốn lượn không rời, lúc nhẹ nhàng rủ rỉ, lúc róc rách ào ạt. Du khách chỉ có thể thăm hang từ tháng 12 đến tháng 9 năm sau, thời gian còn lại hang ngập nước lũ. Hang Én chính là cửa thoát lũ khổng lồ, giải cứu bản Đoòng không chìm sâu trong lòng nước.

Cũng vì lũ, Hang Én không có những cột thạch nhũ lung linh tráng lệ giống như những người hàng xóm giàu có của mình, thay vào đó là vẻ thô mộc hoang dã như thế giới tiền sử. Nối sát bước các cậu guide, chúng tôi hết ồ lại à khi bắt gặp những đụn thạch nhũ tràn như thác, từa tựa ruộng bậc thang Tây Bắc mùa nước đổ. Cây gỗ cao hàng chục mét trơ gốc trên nền đá, lũ cuốn theo tự bao giờ. Ô kìa, có chú chim én lạc bầy, ngơ ngác đậu xuống chưa kịp cất cánh bay.

Lòng hang tối như hũ nút, ánh sáng từ chiếc đèn trên đỉnh đầu chưa rọi tới vách đã tan ra không trung. Những tảng đá ngổn ngang, những bức tường thạch nhũ triệu năm, tiếng bước chân lội nước ì oạp, mùi phân én ngai ngái, hơi gió lành lạnh bủa vây. Tất cả kích thích mọi giác quan, khiến chúng tôi có cảm giác mình là những nhà thám hiểm đích thực.

Cuối đường dài là ánh sáng. Cửa sau của Hang Én xuất hiện trong tiếng trầm trồ thán phục. Đây thực sự là một kiệt tác của thiên nhiên. Vòm cửa là một vòng cung tròn đẹp mê hoặc, cao hơn 80m, rộng hơn 30m. Bên ngoài khung cửa khổng lồ ấy là một khu rừng rậm rạp, sự sống xâm lấn mang theo màu xanh mướt vào cả trong lòng hang. Ánh sáng soi tỏ bãi cát, mặt nước tĩnh lặng như mặt gương nhân đôi vẻ diệu kỳ.

Tôi đứng dưới cửa hang cao lớn, nhưng không bước qua. Tôi biết, từ đây theo đường mòn, chỉ 2km nữa thôi theo dòng chảy của Rào Thương là đến Sơn Đoòng, đỉnh cao mơ ước của biết bao người mê khám phá. Trong lòng Phong Nha - Kẻ Bàng, còn bao nhiêu "gã khổng lồ" nữa chưa được tìm ra, còn bao nhiêu thế giới nữa vẫn đang ngủ yên trong rừng già.

Tôi tiếc nuối quay về, cùng đoàn thu dọn đồ đạc, ăn trưa và theo một con đường khác băng rừng 11km, leo dốc đứng 60-70 độ để về cửa rừng, “trở lại thế giới văn minh”. “Cùng trèo lên đỉnh núi cao vời vợi, để ta khắc tên mình trên đời”, bài hát vang từ chiếc loa của cậu bạn như tiếp thêm sức mạnh, để bước đi bỗng vững chãi hơn. Nhấp một hơi lon bia mát lạnh chờ sẵn trên đỉnh dốc, phóng tầm mắt tìm kiếm con đường đã qua giờ hòa lẫn vào rừng già, tôi tự nhủ dấu chân mình sẽ còn in trên nhiều miền đất khác. Sơn Đoòng, hẹn một ngày không xa !